Giải trí

Những vai diễn để đời và cái bóng theo nghệ sĩ suốt sự nghiệp

Hơn 40-60 năm sau khi phim ra mắt, NSND Trà Giang vẫn được khán giả nhớ đến với hình ảnh chị Tư Hậu, NSƯT Đức Lưu gắn liền với Thị Nở. Có người bén duyên với vai diễn nhờ một giấc mơ của đạo diễn, có người hóa thân xuất sắc đến mức sau đó không còn ai dám mời đóng phim.

Với điện ảnh Việt Nam, có những vai diễn vượt qua giới hạn của một tác phẩm, trở thành dấu ấn không thể tách rời khỏi tên tuổi người nghệ sĩ. Dù đã kinh qua nhiều nhân vật, được phong tặng danh hiệu NSND, NSƯT hay có sự nghiệp kéo dài hàng chục năm, họ vẫn thường được công chúng gọi bằng tên nhân vật từng làm nên tên tuổi.

Đó vừa là vinh quang của người nghệ sĩ, vừa là nghịch lý của nghề diễn: một vai diễn có thể đưa họ đến đỉnh cao danh vọng, nhưng cũng có thể trở thành cái bóng quá lớn, khiến những nỗ lực tiếp theo khó lòng vượt qua.

NSND Trà Giang: Đôi mắt làm nên sức sống của chị Tư Hậu

Năm 1962, sau khi tốt nghiệp khóa diễn viên đầu tiên của Trường Điện ảnh Việt Nam và hoàn thành bộ phim đầu tay "Một ngày đầu thu", Trà Giang được đạo diễn Phạm Kỳ Nam lựa chọn vào vai chị Tư Hậu trong bộ phim cùng tên.

Khi ấy, nữ diễn viên quê Quảng Ngãi mới khoảng 20 tuổi, trong khi nhân vật chị Tư Hậu là người phụ nữ Nam Bộ từng trải, phải chịu nhiều mất mát, đau thương giữa cuộc kháng chiến chống Pháp. Khoảng cách về tuổi đời, trải nghiệm và hoàn cảnh sống đặt lên vai diễn viên trẻ một áp lực không nhỏ.

Nhiều năm sau, Trà Giang vẫn nhớ cảm giác lo lắng khi phải hóa thân thành một người phụ nữ có số phận và những trải nghiệm mà bản thân chưa từng đi qua. Tuy nhiên, bằng khả năng diễn xuất giàu cảm xúc, đặc biệt là biểu cảm gương mặt và ánh mắt, bà đã tạo nên một nhân vật có sức lay động sâu sắc.

Ra mắt năm 1963, "Chị Tư Hậu" nhanh chóng trở thành tác phẩm tiêu biểu của điện ảnh cách mạng Việt Nam. Đạo diễn, NSND Bạch Diệp từng dành lời khen đặc biệt cho đôi mắt của Trà Giang, nhận xét bà có một đôi mắt "vô địch". Chính ánh nhìn ấy đã góp phần truyền tải những đau đớn, mất mát và nghị lực của người phụ nữ trong chiến tranh, ngay cả khi nhân vật không cần nói thành lời.

Sức sống của bộ phim không chỉ giới hạn trong nước. Tác phẩm còn xuất hiện trên nền tảng chiếu phim kinh điển Criterion Channel của Mỹ với tựa đề "Ms. Tư Hậu", được giới thiệu như một góc nhìn hiếm hoi về chiến tranh và cách mạng từ phía người phụ nữ Việt Nam.

Sau thành công của "Chị Tư Hậu", Trà Giang tiếp tục ghi dấu ấn với "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm" cùng nhiều tác phẩm khác. Bà trở thành một trong những nghệ sĩ được phong tặng danh hiệu NSND ngay trong đợt đầu tiên năm 1984, đồng thời có 3 khóa làm đại biểu Quốc hội.

Năm 1989, sau bộ phim Dòng sông hoa trắng, Trà Giang giã từ sự nghiệp diễn xuất. Năm 1999, chồng bà là nghệ sĩ violin Nguyễn Bích Ngọc đột ngột qua đời. Từ đó, nữ nghệ sĩ dành nhiều thời gian cho hội họa, tìm niềm vui trong cuộc sống riêng.

Ở tuổi ngoài 80, khi đã rời xa màn ảnh nhiều thập kỷ, bà vẫn được nhiều thế hệ khán giả nhớ đến với hình ảnh người phụ nữ Nam Bộ giàu nghị lực trong "Chị Tư Hậu". Đó là minh chứng cho sức sống của một vai diễn kinh điển, đồng thời cho thấy dấu ấn mà Trà Giang để lại trong lịch sử điện ảnh Việt Nam không dễ phai mờ.

NSND Lan Hương: Từ giấc mơ của đạo diễn đến biểu tượng "Em bé Hà Nội"

Nếu Trà Giang được nhớ đến bởi đôi mắt giàu biểu cảm, NSND Lan Hương lại gắn bó với ký ức khán giả qua hình ảnh cô bé Ngọc Hà trong bộ phim "Em bé Hà Nội".

Trong quá trình chuẩn bị cho tác phẩm, đạo diễn, NSND Hải Ninh từng gặp khó khăn khi tìm diễn viên phù hợp với nhân vật chính. Theo những câu chuyện được kể lại, một đêm, ông mơ thấy cô bé Lan Hương mà mình từng gặp trước đó. Hình ảnh ấy khiến ông nghĩ đến việc lựa chọn cô bé cho vai Ngọc Hà.

Khi được giao vai, Lan Hương mới khoảng 10 tuổi, trong khi nhân vật Ngọc Hà lớn hơn tuổi thật của cô. Trong phim, cô bé lang thang giữa Hà Nội đổ nát sau những trận bom, kiên trì tìm kiếm bố mẹ và em gái thất lạc. Hành trình ấy trở thành trục cảm xúc xuyên suốt tác phẩm, phản ánh những mất mát mà chiến tranh gây ra đối với con người, đặc biệt là trẻ em.

Ra mắt năm 1974, "Em bé Hà Nội" nhanh chóng tạo được tiếng vang, đưa Lan Hương trở thành gương mặt thiếu nhi được đông đảo khán giả biết đến. Với nữ nghệ sĩ, đó cũng là một kỷ niệm đặc biệt bởi lần đầu tiên gia đình đồng ý cho cô tham gia đóng phim. Niềm vui của cô bé ngày ấy vẫn là ký ức đáng nhớ trong cuộc đời làm nghệ thuật của bà.

Một chi tiết thú vị là trong "Em bé Hà Nội", Lan Hương từng có dịp diễn xuất cùng NSND Trà Giang, người đã nổi tiếng với vai chị Tư Hậu. Hai nữ nghệ sĩ, hai thế hệ diễn viên, cùng góp mặt trong một tác phẩm để rồi sau này đều được công chúng nhớ đến qua những nhân vật có sức sống vượt thời gian.

Sau dấu mốc điện ảnh ấy, Lan Hương tiếp tục theo đuổi con đường nghệ thuật. Năm 15 tuổi, bà thi đỗ khóa diễn viên đầu tiên của Nhà hát Tuổi trẻ, học cùng những gương mặt sau này trở thành nghệ sĩ nổi tiếng như Chí Trung, Lê Khanh, Minh Hằng và Anh Tú.

Trong nhiều thập kỷ, bà đảm nhận hàng trăm vai diễn trên sân khấu và màn ảnh. Những năm gần đây, Lan Hương tiếp tục được chú ý qua các vai người mẹ, đặc biệt là hình tượng mẹ chồng trong phim truyền hình. Tuy nhiên, danh xưng "Em bé Hà Nội" vẫn luôn gắn liền với tên tuổi bà.

Cái tên ấy không chỉ nhắc nhớ một vai diễn kinh điển mà còn giúp khán giả phân biệt bà với NSND Lan Hương khác, thường được gọi là Lan Hương "Bông". Ở tuổi 63, nữ nghệ sĩ có cuộc sống bình yên bên chồng là đạo diễn, NSƯT Tất Bình.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, cô bé Ngọc Hà trên màn ảnh năm nào đã trở thành một phần ký ức của nhiều thế hệ người Việt. Với Lan Hương, đó là vai diễn đầu đời mang đến danh tiếng và cũng là dấu ấn mà thời gian dường như không thể xóa nhòa.

NSƯT Đức Lưu: Thành công đến mức không còn ai dám mời đóng phim

Trong số những nghệ sĩ có vai diễn để đời của điện ảnh Việt Nam, NSƯT Đức Lưu là trường hợp đặc biệt. Bà nổi tiếng với vai Thị Nở trong "Làng Vũ Đại ngày ấy", nhưng cũng chính thành công quá lớn của nhân vật này khiến con đường diễn xuất sau đó của bà gần như khép lại.

Sinh năm 1939, Đức Lưu theo học khóa đầu tiên của Trường Điện ảnh Việt Nam năm 1959, cùng lớp với những nghệ sĩ như Thế Anh, Trà Giang và Kim Chi. Bà từng đảm nhận vai chính trong "Cô gái công trường", bộ phim truyện thứ hai của điện ảnh cách mạng Việt Nam, trước khi có một quãng thời gian dài ít xuất hiện trên màn ảnh.

Bước ngoặt đến vào năm 1982, khi đạo diễn Phạm Văn Khoa chuẩn bị thực hiện "Làng Vũ Đại ngày ấy". Nhân vật Thị Nở vốn là một thử thách lớn bởi đây không đơn thuần là vai diễn một người phụ nữ có ngoại hình xấu xí, mà còn đòi hỏi diễn viên thể hiện được sự hồn nhiên, chân thành và khát vọng hạnh phúc ẩn sau vẻ ngoài khác thường.

Đoàn phim đã tổ chức thử vai cho khoảng 20 diễn viên nhưng đạo diễn vẫn chưa tìm được người phù hợp. Một buổi trưa mùa hè, Phạm Văn Khoa tìm đến nhà Đức Lưu và đưa bà kịch bản.

Trong buổi thử phục trang, nữ diễn viên bôi đen răng, làm mặt nhọ nhem rồi nhập vai đầy tự nhiên. Cách bà thoại và tương tác với người đóng Chí Phèo khiến hai đạo diễn Phạm Văn Khoa và Hải Ninh lập tức đứng dậy vỗ tay. Họ tin rằng đã tìm được Thị Nở mà bộ phim cần.

Để hóa thân thành nhân vật được xem là người phụ nữ xấu nhất màn ảnh Việt thời bấy giờ, Đức Lưu phải sử dụng răng giả, ngậm bông ở hai bên má, đeo mũi cao su và trang điểm bằng phẩm đỏ. Những thay đổi về ngoại hình giúp bà tạo nên một Thị Nở khác xa hình ảnh thường thấy của người phụ nữ trên màn ảnh.

Tuy nhiên, điều làm nên sức sống của vai diễn không chỉ nằm ở tạo hình. Đức Lưu đã khắc họa được nét vụng về, ngây ngô nhưng giàu tình cảm của Thị Nở, khiến nhân vật vừa tạo tiếng cười, vừa gợi lên niềm thương cảm. Đằng sau vẻ ngoài bị xã hội xa lánh là một con người có khả năng yêu thương và mong muốn được sống một cuộc đời bình thường.

Trong điều kiện làm phim còn nhiều thiếu thốn, cát-sê của diễn viên khi ấy được tính theo mét phim, khoảng 30 đồng mỗi mét. Đoàn phim phải ăn ở nhờ nhà dân suốt nhiều tháng quay. Nhưng khi tác phẩm đến với công chúng, Đức Lưu nhận lại tình cảm đặc biệt từ khán giả. Có người gặp bà ngoài đời đã thương quý đến mức đi chợ còn dúi thêm thịt, rau vào giỏ.

Thành công ấy cũng đem đến một nghịch lý. Đạo diễn Đặng Nhật Minh từng viết riêng một vai diễn cho Đức Lưu. Tuy nhiên, trong buổi chiếu thử, khi nhìn thấy bà, các thành viên hội đồng lại bật cười và gọi bà là "Thị Nở". Câu chuyện cho thấy nhân vật nổi tiếng đã in sâu vào tâm trí công chúng đến mức hình ảnh diễn viên ngoài đời cũng bị gắn chặt với vai diễn.

Sau đó, Đức Lưu không còn được mời đóng phim. Vai diễn từng mang lại danh tiếng dường như cũng trở thành rào cản khiến bà khó thoát khỏi hình tượng đã quá thành công.

Dẫu vậy, nữ nghệ sĩ không xem đó là điều đáng tiếc. Nhìn lại sự nghiệp, bà từng chia sẻ: "Tôi nghĩ có một vai được khán giả nhớ mãi cũng đã là may mắn".

Với Đức Lưu, được sống trong ký ức khán giả qua một nhân vật kinh điển có lẽ đã là phần thưởng lớn. Dù không có một sự nghiệp điện ảnh đồ sộ về số lượng vai diễn, Thị Nở của bà vẫn được xem là một trong những hình tượng đặc sắc của màn ảnh Việt.

NSƯT Thanh Loan: Chọn dừng lại để khán giả mãi nhớ ni cô Huyền Trang

Nếu Đức Lưu không còn được mời đóng phim sau vai Thị Nở, NSƯT Thanh Loan lại chủ động rời xa màn ảnh sau thành công của ni cô Huyền Trang trong "Biệt động Sài Gòn". Với bà, việc dừng lại cũng là cách giữ gìn hình ảnh nhân vật đã chiếm được tình cảm của đông đảo khán giả.

Ít người biết rằng vai ni cô Huyền Trang ban đầu được dự kiến dành cho diễn viên Như Quỳnh. Tuy nhiên, khi nữ diễn viên rút lui vào thời điểm gần ngày quay, đoàn phim rơi vào tình thế khó khăn. Tác phẩm đã được chuẩn bị và triển khai trong thời gian dài nhưng vẫn chưa tìm được người đảm nhận nhân vật quan trọng này.

Năm 1984, Thanh Loan khi ấy đang là phát thanh viên của Truyền hình Công an vào TPHCM công tác. Trong một lần tình cờ gặp họa sĩ thiết kế mỹ thuật Trịnh Thái của đoàn phim, bà biết được câu chuyện thiếu diễn viên đóng Huyền Trang. Sau khi tìm hiểu, nữ nghệ sĩ chủ động xin đọc kịch bản và đề nghị được thử sức.

Quyết định ấy đã mở ra một dấu mốc đặc biệt trong sự nghiệp của Thanh Loan. Để hóa thân thành nữ chiến sĩ biệt động cải trang thành ni cô, bà chấp nhận cắt mái tóc dài, tìm đến chùa ở một tuần để học tụng kinh, gõ mõ và tìm hiểu dáng đi, phong thái của người tu hành.

Những chi tiết tưởng chừng nhỏ ấy góp phần tạo nên một Huyền Trang chân thực trên màn ảnh. Nhân vật vừa mang vẻ thanh tịnh của một ni cô, vừa ẩn chứa sự gan dạ, kiên cường của người chiến sĩ hoạt động bí mật giữa lòng địch.

Một trong những cảnh quay đáng nhớ là khi Huyền Trang đi khất thực dưới nắng gắt trên đường Nguyễn Huệ. Để bảo đảm tính chân thực, đoàn phim sử dụng máy quay giấu kín. Cảnh nhân vật bị tra tấn cũng là thử thách lớn đối với nữ diễn viên khi chỉ được thực hiện một lần, không có cơ hội quay lại.

Hoàn thành năm 1986, bộ phim truyền hình dài 4 tập "Biệt động Sài Gòn" tạo tiếng vang lớn. Huyền Trang trở thành một trong những nhân vật được yêu thích nhất, đến mức nhiều gia đình lựa chọn cái tên này để đặt cho con gái.

Thành công của vai diễn đưa Thanh Loan đến gần hơn với công chúng, nhưng bà không tiếp tục tận dụng sức nóng ấy để theo đuổi sự nghiệp diễn xuất. Sau "Biệt động Sài Gòn", nữ nghệ sĩ không nhận thêm vai diễn nào, một phần vì mong muốn khán giả luôn nhớ đến mình với hình ảnh ni cô Huyền Trang.

Thay vì tiếp tục hoạt động trước ống kính, Thanh Loan chuyển sang công tác quản lý. Bà từng giữ chức Phó Giám đốc Điện ảnh Công an nhân dân, sau đó nghỉ hưu với quân hàm Đại tá.

Hơn bốn thập kỷ kể từ khi bộ phim hoàn thành, hình ảnh ni cô Huyền Trang vẫn in đậm trong ký ức của nhiều khán giả. Với Thanh Loan, đó không chỉ là vai diễn nổi tiếng nhất mà còn là nhân vật gắn liền với một giai đoạn đáng nhớ của điện ảnh Việt Nam.

Mỗi nghệ sĩ có một cách khác nhau để đối diện với vai diễn làm nên tên tuổi. Trà Giang tiếp tục khẳng định tài năng qua nhiều tác phẩm trước khi rời xa màn ảnh; Lan Hương bền bỉ với sân khấu và truyền hình nhưng vẫn được gọi bằng danh xưng "Em bé Hà Nội"; Đức Lưu chấp nhận việc sự nghiệp diễn xuất gần như dừng lại sau Thị Nở; còn Thanh Loan chủ động khép lại hành trình trước ống kính để giữ nguyên hình ảnh ni cô Huyền Trang trong lòng công chúng.

Những lựa chọn ấy khác nhau, nhưng cùng cho thấy sức mạnh đặc biệt của điện ảnh: một nhân vật có thể vượt khỏi khuôn hình, vượt qua thời gian để sống trong ký ức khán giả.

Với người nghệ sĩ, được nhớ đến bởi một vai diễn kinh điển có thể là niềm tự hào lớn nhất. Nhưng phía sau vinh quang ấy đôi khi cũng là một nghịch lý: khi nhân vật đã trở nên quá nổi tiếng, công chúng có thể quên đi những vai diễn khác, thậm chí quên rằng người nghệ sĩ còn có một cuộc đời và sự nghiệp dài hơn nhiều so với hình ảnh họ từng hóa thân.

Dẫu vậy, sau hàng chục năm, khi những bộ phim cũ vẫn được tìm xem và những cái tên chị Tư Hậu, Em bé Hà Nội, Thị Nở hay ni cô Huyền Trang vẫn được nhắc lại, có lẽ điều quan trọng nhất là các nghệ sĩ đã để lại những hình tượng sống lâu hơn chính thời đại của mình. Đó cũng là giá trị bền vững mà không phải sự nghiệp diễn xuất nào cũng có được.

Khánh Chi (tổng hợp)

Cùng thể loại

About Us

The argument in favor of using filler text goes something like this: If you use arey real content in the Consulting Process anytime you reachtent.

Instagram